Thịt chó và bệnh tả: nguyên nhân
và yếu tố nguy cơ
Nguyễn Văn Tuấn
Nhân phát
biểu của ông Jean-Marc Olive trên báo chí Tây phương rằng thịt
chó là nguyên nhân bệnh tả, tôi thấy cần phải nhắc lại để phân
biệt giữa nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Đây là vấn đề khái
niệm đă được bàn từ năm ngoái khi dịch tả xảy ra, nhưng thiết
tưởng chủ đề này vẫn chưa mất thời gian tính …
Ngày xưa người ta thường nhạo báng rằng giới y khoa chỉ đếm được
từ 0 đến 1. Zero là không có bệnh, 1 là mắc bệnh. Bệnh hay
không bệnh như trắng với đen, như không với có, không có ǵ phải
bàn căi. Nhưng bây giờ th́ chúng ta biết rằng bệnh hay không
bệnh không phải đơn giản như thế, nhất là với các bệnh truyền
nhiễm và măn tính. Chúng ta chẩn đoán bệnh loăng xương bằng cái
gọi là “chỉ số T”, tiểu đường bằng nồng độ insulin hay glucose.
Chẳng hạn như nếu bệnh nhân có chỉ số T của mật độ xương thấp
hơn -2,5 th́ chẩn đoán là “loăng xương”. Câu hỏi đặt ra là nếu
bệnh nhân có chỉ số T = -2,45 có nên chẩn đoán loăng xương hay
không? Ở đây không phải là chỗ để bàn câu trả lời, nhưng chỉ
mượn câu hỏi để nói rằng cái chuỗi sinh học đi từ không bệnh đến
bệnh là một dăy liên tục, chứ không phải chỉ có 0 với 1 như cái
thời y học c̣n trong thời “sơ khai” nữa. Có thể xem đó là một
dăy số từ 0, 0.01, 0.02, 0.03, … đến 1. Do đó, có người xem
chẩn đoán là một xác suất, và xác suất là tri thức.
Đối với dịch tễ học, tri thức được phát triển qua hai khía cạnh:
nguyên nhân và yếu tố nguy cơ. Nhưng trước khi bàn về sự phân
biệt giữa hai khái niệm này, cần phải quán triệt khái niệm “nguy
cơ” (tiếng Anh là risk). Nguy cơ mắc bệnh là xác suất
mắc bệnh trong một thời gian phơi nhiễm nhất định ở một cộng
đồng dân số. Nó cần tính thời gian, đo lường, và bản chất là
xác suất. Nguy cơ không có trắng với đen, mà chỉ có khả dĩ,
và khả dĩ được đo bằng xác suất.
Nguyên nhân (cause) là yếu tố sinh học trực tiếp gây nên
bệnh. Chẳng hạn như vi khuẩn V. cholerae trực tiếp gây
bệnh tả. Bệnh tả chỉ có một nguyên nhân, nhưng có nhiều yếu tố
nguy cơ. Yếu tố nguy cơ (risk factor) là một yếu tố --
qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp -- làm tăng nguy cơ mắc
bệnh của một cá nhân. Chẳng hạn như uống nước bị ô nhiễm không
đun sôi là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh dịch tả. Một yếu tố nguy
cơ có thể là một nguyên nhân mắc bệnh, nhưng phải hội đủ một số
điều kiện nhất định. Mối liên hệ giữa nguyên nhân và bệnh mang
tính nhân-quả (cause-and-effect relationship), nhưng mối liên hệ
giữa yếu tố nguy cơ và bệnh mang tính tương quan (correlational
relationship).
Yếu tố nguy cơ là một khái niệm mang tính bao quát được đề xuất
từ thập niên 1960 (W. Kannel là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“risk factor” vào năm 1961) để mô tả những bệnh măn tinh phức
tạp như bệnh tim và ung thư. Phân biệt được khái niệm nguyên
nhân và yếu tố nguy cơ giúp cho nhận thức về bệnh lí cũng như
t́m những biện pháp pḥng chống bệnh có hiệu quả hơn. Không
phân biệt được hai khái niệm yếu tố nguy cơ và nguyên nhân có
thể dẫn đến hiểu lầm và có những hành động không thích hợp và có
thể gây tác hại đến một quần thể lớn.
Gần
đây, trên các báo đại chúng người ta nói đến thịt chó là nguyên
nhân của bệnh tả mới bộc phát trong thời gian qua. Trước đó có
phát biểu khẳng định rằng mắm tôm là nguyên nhân của sự bộc phát
bệnh tả vào tháng 10 năm ngoái. Nhưng bây giờ th́ mắm tôm đă
được “minh oan”, và thịt chó được “diễu hành” trên báo chí quốc
tế như là một “cause” (nguyên nhân) gây bệnh tả. Ngoài vấn đề
thiếu bằng chứng, việc sử dụng từ “nguyên nhân” là một sai
lầm khác. Ở đây, tôi muốn bàn đến các tiêu chuẩn khoa học để
xác định một yếu tố nguy cơ là nguyên nhân như sau.
Tiêu chuẩn để xác định nguyên
nhân
Như nói trên, một yếu tố nguy cơ có thể là một nguyên nhân,
nhưng cũng có thể không phải là nguyên nhân, gây bệnh. Nếu thịt
chó là nguyên nhân bệnh tả th́ phải hội đủ 5 điều kiện sau đây:
·
sinh học -- mối liên hệ giữa thịt chó và
bệnh tả có cơ sở sinh học (như đột biến gien, biến thể DNA, vi
khuẩn, v.v…);
·
thời gian -- việc ăn thịt chó phải xảy ra
trước khi mắc bệnh tả;
·
liên hệ theo tính liều lượng -- nguy cơ mắc
bệnh tả ở những người ăn thịt chó phải cao hơn nguy cơ ở những
người không ăn thịt chó, VÀ phải chứng minh rằng người ăn càng
nhiều thịt chó có nguy cơ mắc bệnh càng cao, ăn ít có nguy cơ
mắc bệnh càng thấp;
·
nhất quán -- mối liên hệ đó phải được
“chứng minh” trong nhiều quần thể và nhiều nghiên cứu độc lập,
chứ không phải chỉ một quần thể hay một nghiên cứu; và
·
can thiệp -- nếu ngưng ăn thịt chó th́ sẽ
giảm nguy cơ hay không mắc bệnh tả.
Yêu cầu số 1 của 5 điều kiện trên là phải có lí do sinh
học. Không có lí do sinh học th́ hoàn toàn không thể nói ăn
thịt chó là nguyên nhân của bệnh tả. Nếu giả thiết rằng thịt
chó chứa vi khuẩn nào đó gây bệnh tả, th́ phải chứng minh cho
được vi khuẩn đó gây bệnh tả. Trong y học nói riêng, và khoa
học nói chung, xác định một vi khuẩn gây bệnh đ̣i hỏi nghiên cứu
nghiêm chỉnh và thời gian. Nói một cách ngắn gọn, một vi khuẩn
(hay một yếu tố sinh học) là nguyên nhân gây bệnh nếu hội đủ 4
tiêu chuẩn (hay bốn bước) sau đây:
·
thứ nhất, vi khuẩn đó phải tồn tại ở số lượng lớn
trong tất cả bệnh nhân, nhưng không tồn tại trong những
người không mắc bệnh;
·
thứ hai, vi khuẩn đó phải được tách ra từ cơ thể
bệnh nhân và có thể nuôi cấy trong môi trường thí nghiệm (mẻ cấy
vi khuẩn);
·
thứ ba, khi vi khuẩn nuôi trong môi trường thí
nghiệm cấy vào con người b́nh thường sẽ làm cho người đó mắc
bệnh; và
·
thứ tư, khi vi khuẩn cấy vào người và gây bệnh
được tách ra phải chính là vi khuẩn được tách ra ở bước 2 (tức
là khi cấy vào con người ở bước ba vi khuẩn không đột biến thay
đổi).
Dựa vào các tiêu chuẩn trên, vào thế kỉ 19, Robert Koch đă chứng
minh rằng V. cholerae chính là vi khuẩn gây bệnh tả. Ngày
nay chúng ta biết rằng tất cả những người mắc bệnh tả đều bị
nhiễm vi khuẩn, nhưng họ phải hấp thụ trên một triệu vi khuẩn
V. cholerae th́ triệu chứng và bệnh mới phát sinh.
Nh́n qua những tiêu chuẩn khoa học trên, chúng ta thấy không dễ
ǵ xác định thịt chó là nguyên nhân của bệnh tả. Thật ra, rất
khó xác định bất cứ thực phẩm nào là nguyên nhân của bệnh! Nếu
là người hiểu và thấm nhuần nguyên lí dịch tễ học, chẳng ai dám
nói có thể nói đến nguyên nhân, mà chỉ khiêm tốn nói đến yếu tố
nguy cơ.
Do đó, điểm qua các tiêu
chuẩn mà tôi vừa tŕnh bày trên, chưa thể kết luận ǵ về ảnh
hưởng (nếu có) của thịt chó đến bệnh tả. Chúng ta chưa thấy bất
cứ một nghiên cứu nào được công bố trong y văn về mối liên hệ
giữa thịt chó và bệnh tả. Chúng ta chưa thấy bất cứ một bằng
chứng nào về mối liên hệ giữa thịt chó và bệnh tả hội đủ 5 tiêu
chuẩn khoa học và 4 tiêu chuẩn sinh học trên. Như vậy, phát
biểu rằng thịt chó là một nguyên nhân bệnh tả là rất sai lầm,
sai từ lí thuyết dịch tễ học đến sai về khái niệm định danh, và
sai về qui ước khoa học.
Vậy
th́ yếu tố nào là yếu tố nguy cơ của bệnh tả? Trong phần sau
đây tôi sẽ tŕnh bày bằng chứng trong y văn để cho thấy bệnh tả
có nhiều yếu tố nguy cơ, và phần lớn là liên quan đến nguồn nước
và vệ sinh cá nhân.
Các yếu tố nguy cơ bệnh tả
Rất
tiếc là cho đến nay, ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về nguy
cơ và qui mô bệnh dịch tả được công bố trên các diễn đàn y học
quốc tế, nên chúng ta chưa biết rơ các yếu tố nguy cơ bệnh dịch
tả ở nước ta là ǵ. Có khả năng có nghiên cứu công bố trên các
tập san ở trong nước nên thông tin chưa phổ biến ra ngoài. Do
đó, tôi dựa vào y văn nước ngoài để tŕnh bày trong phần bàn về
các yếu tố nguy cơ của bệnh dịch tả.
Trong
thời gian 1991-2001, cả nước ghi nhận có 17.385 trường hợp bệnh
dịch tả; trong số này, 28% xảy ra ở phía nam miền Trung, 27% ở
các bờ biển phía bắc miền Trung. Tỉ lệ phát sinh là 2,7 trên
100.000 dân số. Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận qua các trường
hợp này liên quan đến nguồn nước: lượng mưa nhiều, nước uống
thiếu vệ sinh hay bị nhiễm trùng, và thiếu cầu tiêu, cầu tiểu
[1].
Kinh
nghiệm từ các vụ bộc phát bệnh tả tại một số nước trên thế giới
cung cấp cho chúng ta nhiều yếu tố nguy cơ đáng chú ư. Trong
thời gian 2001 đến 2004, bệnh dịch tả bộc phát ở tỉnh
Sistan-va-Baluchestan (Iran), với 2.242 ca bệnh tiêu chảy, trong
đó 90 ca dương tính với vi khuẩn V. cholerae O1 E1-Tor
chủng Ogawa. Các nhà nghiên cứu Iran đă làm một việc có ư
nghĩa: họ tiến hành nghiên cứu dịch tễ học để hệ thống hóa đặc
điểm vùng bị nhiễm vi khuẩn và nhận dạng các yếu tố nguy cơ
[2]. Qua kết quả phân tích dữ liệu, các yếu tố nguy cơ sau đây
được phát hiện (Bảng 1):
|
Bảng
1. Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả qua kết quả
nghiên cứu ở Iran |
|
Yếu
tố nguy cơ |
Tỉ số nguy cơ (relative risk) |
|
Uống
nước và bia từ các hàng quán bên lề đường |
10,2 |
|
Không
rửa tay sau khi đi tiêu hay đi tiểu |
22,1 |
|
Không
rửa tay trước khi ăn uống |
3,6 |
|
Ăn thức
ăn c̣n dư lại từ hôm trước |
4,0 |
|
Uống
nước giếng / sông |
2,8 |
|
Chú thích diễn giải số
liệu: Tỉ số
nguy cơ liên quan đến một yếu tố nguy cơ có thể diễn
dịch qua một ví dụ như sau: những người đi tiêu / tiểu
mà không rửa tay có nguy cơ mắc bệnh dịch tả, tính trung
b́nh, cao hơn 22,1 lần so với những người có rửa tay sau
khi đi tiêu hay đi tiểu. |
Kết quả phân tích trên cho thấy các yếu tố nguy cơ nguy hiểm
nhất là không rửa tay sau khi đi tiêu / tiểu và trước khi ăn
uống. Uống nước sông hay nước giếng cũng là một yếu tố quan
trọng. Ngoài ra, kết quả của họ c̣n cho thấy đàn ông có nguy cơ
mắc bệnh cao hơn phụ nữ đến 3,7 lần, và người mù chữ có nguy cơ
mắc bệnh cao hơn người biết chữ khoảng 6 lần.
Năm 1997, bệnh dịch tả bộc phát ở vài vùng ở Tanzania [3]. Các
nhà nghiên cứu tận dụng “cơ hội” này để tiến hành một nghiên cứu
dịch tễ học và kết quả cung cấp cho chúng ta một số yếu tố nguy
cơ có vẻ “gần” với những đặc điểm sinh sống ở nước ta (Bảng 2).
|
Bảng 2. Yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tả qua kết
quả nghiên cứu ở Tanzania
|
|
Yếu
tố nguy cơ |
Tỉ số nguy cơ |
|
Dự đám
tang gần đây |
2,7 |
|
Nhà có
vách làm bằng bùn |
1,7 |
|
Trần
nhà không có tole hay ngói |
2,0 |
|
Không
có cầu tiêu / nhà xí trong nhà |
11,4 |
|
Uống
nước không đun sôi |
1,9 |
|
Tắm
sông |
11,4 |
|
Ăn cá
khô |
13,0 |
|
Ăn tôm
và tôm khô |
3,1 |
|
Ăn rau
cải sống (không nấu chín) |
1,3 |
|
Chú thích diễn dịch:
xem bảng 1. |
Kết
quả trên một lần nữa cho thấy các yếu tố như nguồn nước uống,
nhà xí, tắm sông (và ngạc nhiên thay, ăn cá khô) là những yếu tố
rất quan trọng có liên quan đến bệnh dịch tả. Chú ư trong danh
sách “yếu tố nguy cơ” trên cũng khá phù hợp với một bản tin gần
đây trên báo
Tuổi Trẻ, mà theo đó,
“Tại tỉnh Hải Dương (mới phát hiện có người mắc bệnh khoảng
ba ngày nay) nhưng số bệnh nhân đă xấp xỉ 100 người, phần lớn
trong số này cùng ăn cỗ tại một đám tang, với các thực phẩm
truyền thống như thịt lợn, ḅ, gị chả.” Tất nhiên, dự đám
tang không phải là nguyên nhân, nhưng chỉ là một yếu tố nguy cơ
gián tiếp!
Nói tóm lại, nguyên nhân khác với yếu tố nguy cơ. Bệnh tả
có một nguyên nhân (đó là vi khuẩn V. cholerae) nhưng có
nhiều yếu tố nguy cơ. Phần lớn các yếu tố này liên quan đến
nguồn nước, vệ sinh cá nhân, và vệ sinh thực phẩm. Thịt chó,
cũng như các thực phẩm khác, có thể là một yếu tố nguy cơ chứ
không thể là nguyên nhân của bệnh tả. Thật ra, cho đến giờ phút
này, chúng ta vẫn chưa có bằng chứng khoa học để phát biểu rằng
thịt chó là một yếu tố nguy cơ của bệnh tả [4]. Chúng tôi vẫn
nghĩ rằng bất cứ một biện pháp pḥng bệnh nào cũng nên dựa vào
bằng chứng khoa học chứ không nên dựa vào cảm tính hay niềm tin,
v́ trong quá khứ hành động theo cảm tính và niềm tin đă gây tác
hại đến cộng đồng.
Nhưng bằng chứng khoa học chỉ có thể thu thập qua
nghiên cứu có phương pháp. Mặc dù bệnh dịch tả không mới ở nước
ta, nhưng cho đến nay các thông tin về qui mô, yếu tố nguy cơ
của bệnh vẫn c̣n quá khiêm tốn, nếu không muốn nói là “chẳng có
ǵ”. Điều này rất tương phản với các nước khác, kể cả các nước
Phi châu, nơi mà họ thu thập thông tin khá đầy đủ để đi đến
những chương tŕnh y tế dự pḥng rất hữu hiệu. Đây là thời điểm
lí tưởng để thực hiện các nghiên cứu dịch tễ học t́m hiểu về quá
tŕnh bộc phát bệnh cũng như các yếu tố địa phương và cá nhân có
liên quan đến bệnh. Những thông tin này rất cần cho việc hoạch
định một chiến dịch pḥng ngừa bệnh trong tương lai.
Chú thích
[1] Kelly-Hope
LA, Alonso WJ, Thiem VD, Anh DD, Canh do G, Lee H, Smith DL,
Miller MA. Geographical distribution and risk factors associated
with enteric diseases in Vietnam. Am J Trop Med Hyg. 2007
Apr;76(4):706-12.
[2] Izadi S,
Shakeri H, Roham P, Sheikhzadeh K. Cholera outbreak in
southeast of iran: routes of transmission in the situation of
good primary health care services and poor individual hygienic
practices. Jpn J Infect Dis. 2006 Jun;59(3):174-8.
[3] Acosta CJ,
Galindo CM, Kimario J, Senkoro K, Urassa H, Casals C, Corachan
M, Eseko N, Tanner M, Mshinda H, Lwilla F, Vila J, Alonso PL.
Cholera outbreak in southern Tanzania: risk factors and patterns
of transmission. Emerg Infect Dis. 2001;7(3 Suppl):583-7.
[4] Nếu ai có
bất cứ bằng chứng nào về mối liên quan giữa thịt chó và bệnh tả,
xin chia sẻ với chúng tôi. Cần nói thêm rằng nếu có nhiều người
mắc bệnh tả báo cáo rằng họ từng ăn thịt chó trước đây th́ đây
không phải là bằng chứng khoa học của mối liên quan giữa thịt
chó và bệnh tả.
|