Tản mạn về về bài viết “Không được tuỳ tiện phát ngôn tiêu cực
về chống dịch tiêu chảy” của tác giả Nguyễn Văn Dũng
Nguyễn Đ́nh Nguyên
|
Nếu phát biểu như ông Nguyễn Văn Dũng, tôi thiết nghĩ,
lẽ ra ông nên đề nghị rơ ràng và cụ thể hơn là:
“Trong khi dịch tiêu chảy cấp đă lan rộng, mầm bệnh gây
dịch phát tán khắp nơi trong tất cả các môi trường, các
bề mặt của mọi thứ có thể là trung gian truyền bệnh Cấm
lưu hành, sử dụng tiền tệ; cấm kinh doanh thực phẩm, nhà
hàng và cấm ăn uống nhằm hạn chế tối đa những tổn thất
đối với sức khỏe con người!” |
Báo Sức khoẻ Đời sống 21/4, có bài viết:
“Không được tuỳ tiện phát ngôn tiêu cực về chống dịch tiêu chảy”,
của tác giả Nguyễn Văn Dũng (NVD), thật là hiếm hoi mới có dịp
thấy được thấy một lần có bài tranh luận về chủ đề khoa học trên
mặt báo chí. Tôi lấy làm thích thú, hào hứng để đọc bao nhiêu
th́ nỗi buồn thất vọng sau khi đọc xong bấy nhiêu; không v́ chất
lượng bài viết mà v́ thái độ của người viết.
Toát lên trong bài, tôi cảm nhận một lối văn phong hằn học, có
tính xỉ vả cá nhân của ông NVD đối với hai tác giả
Nguyễn Văn Tuấn và
Lê Đ́nh Phương th́ nhiều mà lại không đi vào bàn nội dung
của hai tác giả này muốn tŕnh bày. Đại ư ông là hai tác giả này
không có chuyên môn ǵ về “chuyên khoa vệ sinh dịch tễ” nên
không được nêu ư kiến của ḿnh về chuyên ngành đó. Tiếc thay,
NVD là người làm khoa học với bằng “chuyên khoa về vệ sinh dịch
tễ” như ông ấn kư cuối bài viết, lại ghét/và phản học thuật và
khoa học đến như vậy!
Ông NVD không hề chỉ ra trong bài viết của tác giả Nguyễn Văn
Tuấn là lỗi lầm ở đâu, sai chỗ nào; ông cũng không chỉ ra điểm
nào của tác giả Lê Đ́nh Phương nêu lên là điểm “không đáng tranh
luận để đăng trên báo chí” và tại sao lại như vậy, rồi chẳng
biết với tư cách ǵ (mà tôi tin là không có một ai được có tư
cách và quyền hạn đó) lại cấm người khác “không được tuỳ tiện
phát ngôn”! Tôi đang có cảm tưởng rằng khoa học và những người
làm khoa học của chúng ta đang bị nhốt trong một cái rọ quyền
hạn và pháp chế bất thành văn.
Bất kỳ ai, chứ không cứ ǵ là nhà khoa học và phải có bằng
chuyên ngành mới có quyền phát biểu và phê phán về một luận điểm
chuyên môn hay khoa học, miến rằng những phát biểu và luận điểm
họ tŕnh bày đó có tính thuyết phục, có bằng chứng và biện
chứng. Phát biểu đó có thể phù hợp hay không phù hợp với kiến
thức, các khuyến cáo chuyên môn hiện hành; phát biểu đó có thể
đúng hoặc không đúng, chính xác hoặc không. Và cũng tương tự như
thế, ai cũng có quyền phê phán luận điểm đó.
Không những ông NVD trong bài viết của ḿnh đă không chỉ ra được
điểm sai nào của hai tác giả Nguyễn Văn Tuấn và Lê Đ́nh Phương
về mặt học thuật cũng như lư luận, lại quay sang công kích và
lại “ra lệnh” cho người khác. Đó là những hành vi phản khoa học
và thiếu tôn trọng người đọc cũng như người đối thoại, nếu không
nói là trịch thượng. Không những thế, với chuyên môn về “Vệ sinh
dịch tễ” của ḿnh, ông Nguyễn Văn Dũng lại rao giảng những kiến
thức về bệnh dịch hụt hẫng của ông.
Trong bài viết của ông NVD có đoạn: “Thưa ông Tuấn, ông nên
biết rằng, trong việc giám sát các véctơ truyền bệnh, ngành y
bất cứ lúc nào cũng phải làm các chỉ tiêu chỉ điểm vệ sinh trước
và khi sự phơi nhiễm đă rơ ràng th́ có thể làm thêm xét nghiệm
t́m vi khuẩn gây bệnh để xác định nguồn bệnh, thực phẩm nguyên
nhân. Trong các vi khuẩn chỉ điểm nhiễm bẩn phân người và gia
súc, các vi khuẩn Streptacoccus và Staphilltacoccus [là vi
khuẩn ǵ? Có lẽ Staphylococcus] là chỉ điểm môi trường mới ô
nhiễm, c̣n E.Coli chỉ điểm nhiễm bẩn phân đă xảy ra được ít lâu
(vi khuẩn này có tuổi thọ như đa số vi khuẩn gây bệnh cùng trong
môi trường tương đương), và vi khuẩn Cl.Perfringens là chỉ điểm
nhiễm bẩn phân xảy ra đă lâu nếu không c̣n dương tính với các vi
khuẩn trước đó. Do đó việc nhận định nguy cơ nhiễm bẩn phân
(không phải khẳng định, xác định) trong đất, nước, thực phẩm,
dụng cụ, bàn tay, đồng tiền... thông qua chỉ tiêu E.Coli là một
kiến thức cơ bản, kinh điển”.
Như vậy ông NVD cho rằng là nguồn bệnh của “dịch tiêu chảy cấp”
đă và đang hoành hành là chưa rơ ràng, thực phẩm nguyên nhân
cũng chưa t́m thấy nên phải đi t́m. Theo tôi, đó là những việc
làm quá mức không cần thiết và trệch hướng trong quy tŕnh chống
dịch tả hiện nay.
Thứ nhất, chính v́ lẽ định danh bệnh không rơ ràng nên chúng ta
vẫn cứ loanh quanh trong việc đi xét nghiệm đại trà mẫu thực
phẩm và cả tiền để t́m nguyên nhân gây bệnh, mà nguyên nhân th́
đă sờ sờ ra đấy.
Trong ṿng 6 tháng qua, Hà nội và một số tỉnh thành ở miền bắc
Việt nam đă trải qua vài đợt tiêu chảy phân nước cấp tính mà
nguyên nhân chính phải được xác định là do vi trùng tả, và các
đợt dịch đó đều là dịch tả. V́ một lẽ rằng có rất nhiều loại vi
trùng có thể gây tiêu chảy phân nước cấp tính, nhưng trong đó
chỉ có vi trùng tả mới là vi trùng gây tiêu chảy cấp tính nguy
hiểm nhất cho người bệnh và lây lan trong cộng đồng. Một khi đă
xác định được ít nhất có một trường hợp bệnh nhân bị tiêu chảy
cấp do tả, th́ đợt dịch đó cần phải định danh là dịch tả và tất
cả mọi bệnh nhân có triệu chứng tiêu chảy cấp nằm trong vùng địa
dư có dịch phải được điều trị như tả. Bởi v́ điều trị và kiểm
soát bệnh nhân cũng như môi trường theo quy tŕnh bệnh Tả là một
quy tŕnh pḥng chống bệnh lây nhiễm theo đường nước qua phân
nghiêm ngặt nhất, cấp bách và bức thiết nhất, nó bao trùm lên
mọi nguyên nhân gây tiêu chảy phân nước cấp tính.
Việc xác định vi khuẩn nguyên nhân trong một vụ dịch tiêu chảy,
đặc biệt là tả chỉ có ư nghĩa trong đầu vụ dịch hoặc nơi mới
khởi phát một ổ dịch. Việc khu trú khu vực truy t́m nguyên nhân
cũng phải theo dấu vết dịch tễ có liên quan trực tiếp với người
bệnh đó mà thôi. Một khi bệnh tả đă lây lan sang nhiều người
khác và trong cộng đồng thành dịch th́ việc xét nghiệm t́m kiếm
sự có mặt của vi khuẩn tả trên diện rộng là điều tốn kém và
không cần thiết, và Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) cũng khuyến
cáo như vậy. Bởi một lẽ, vi khuẩn ta lây lan theo nguồn nước qua
phân người bị nhiễm bệnh thải ra ngoài và sẽ hiện diện bất cứ
nơi nào nước bị nhiễm có thể đến được, ngoài ra nó c̣n được phát
tán thông qua ruồi nhặng và đại đa số những người nhiễm tả mà
không mắc bệnh.
Lư lẽ phải đi t́m nguyên nhân và nguồn nhiễm bệnh chính (theo
ông NVD) có thể là v́ chỉ có trên dưới 300 người bệnh có t́m
thấy vi khuẩn tả trong số trên dưới 2000 người bị mắc bệnh.
Nhưng trong y văn từ trước tới nay cũng chưa có ǵ thay đổi là
chỉ khoảng 15% số người bị bệnh tả khi xét nghiệm có vi khuẩn
tả. Hơn nữa, cũng chỉ có 30% số người nhiễm vi khuẩn tả bị tiêu
chảy mà thôi. Vậy th́ hà cớ ǵ phải mất công mất sức đi t́m
những nguyên nhân có khả năng gây tiêu chảy phân nước cấp tính
khác (không có điều trị và pḥng chống đặc hiệu hoặc khẩn cấp)
một khi đă t́m được nguyên nhân tả.
Cũng nên biết rằng, vi khuẩn kể cả loại gây bệnh và không gây
bệnh đều hiện diện khắp nơi trong môi trường, kể cả trên da con
người. Nhưng cần phải xác định một điều rằng, chỉ có một số rất
ít loại vi trùng (tính cả kư sinh trùng) mới có khả năng gây
tiêu chảy cấp tính thành dịch lan toả và cần phải có điều trị
đặc hiệu. Sự hiện diện của nhiều vi khuẩn có khả năng gây bệnh
như ông NVD nêu lên trong các mẫu xét nghiệm thực phẩm hay vật
dụng một các đại trà và ngẫu nhiên đó nó không là một chỉ số
dịch tễ học để phản ánh hoặc chỉ điểm được cho một loại bệnh lư
đặc thù nào trong vụ dịch cả. Đó là chưa kể về một mối liên hệ
có tính hữu cơ và sinh học giữa nguồn bệnh và người bệnh, mà các
kết quả xét nghiệm đó không bao giờ trả lời được.
Và v́ lẽ đó tôi hoàn toàn tán đồng với ư kiến của hai ông Nguyễn
Văn Tuấn và Lê Đ́nh Phương bàn về sự sai lệch và đánh đồng
nguyên nhân trong cách thức pḥng chống dịch tả như hiện nay.
Tiếp theo đó, ông Nguyễn Văn Dũng nhận xét: “Trong khi dịch
tiêu chảy cấp đă lan rộng, mầm bệnh gây dịch phát tán khắp nơi
trong tất cả các môi trường, các bề mặt của mọi thứ có thể là
trung gian truyền bệnh th́ mọi biện pháp nhằm "bao vây, dập tắt
dịch" trong thời điểm này đều đúng, dù phải trả giá ở khía cạnh
nào đó. Ví dụ việc dẹp chợ ở Văn Chương và tẩy uế hồ Linh Quang
ở khu vực này bằng hóa chất có thể để lại hậu quả về môi trường
sau này hay việc quy định tạm ngừng kinh doanh, sử dụng mắm tôm,
rau sống trong khi dịch lưu hành là rất cần thiết, nhằm hạn chế
tối đa những tổn thất đối với sức khỏe con người. Tại sao ông
Tuấn lại quy ngành y tế "tập trung vào E.Coli là một sai lầm"
c̣n BS. Lê Đ́nh Phương lại tranh luận "Tiền là thủ phạm lây lan
tiêu chảy cấp" một cách hồ đồ như thế?”
Tôi không bàn đến những bất cập và luẩn quẩn hiện nay trong cách
thức pḥng chống dịch tả của giới chức thẩm quyền ở Việt nam
hiện nay, chỉ xoay quanh những điểm ông NVD nêu lên. Chính sự
luẩn quẩn trong việc định danh tên dịch bệnh mà cách thức pḥng
chống bệnh không triệt để và đúng bản chất của bệnh dịch.
Nếu xác định dịch này là dịch tả, th́ phải xác nhận một điều
rằng nguồn phát tán vi trùng Tả nguy hiểm nhất, chính là từ chất
thải của bệnh nhân và những người bị nhiễm vi trùng tả mà không
mắc bệnh. Phương tiện để vận chuyển số lượng bội vi trùng Tả đó
đến để lây lan cho người khác, cộng đồng khác, vùng địa dư khác
đó chính là nước. Thông qua các phương tiện trung gian như ruồi
nhặng, vật dụng và tay người, vi trùng tả đi vào miệng để vào
đường tiêu hóa.
Thực phẩm nói chung là nguồn trung gian đến con người, và bất cứ
loại thực phẩm nào, kể cả nấu chin, đun sôi nếu không ăn uống
ngay với phương thức hợp vệ sinh, về mặt lư thuyết đều có thể
nhiễm hoặc tái nhiễm vi trùng tả. Chính v́ lẽ đó không thể và
không có cách thức nào triệt để loại bỏ mầm bệnh tả nếu nguồn
nước và môi trường bị ô nhiễm không được thanh tẩy. Và cũng
chính v́ thế không thể cấm người sử dụng không được sử dụng loại
thực phẩm nào mà chỉ có thể có lời khuyên không nên sử dụng thức
ăn chưa được nấu chin mà thôi. Nếu biết đó là dịch tả, th́ việc
“ngăn sông cấm chợ” là điều hoàn toàn vô lư và bất khả.
Không ai phủ nhận được rằng vệ sinh thực phẩm là một khâu quan
trọng trong vai tṛ trung gian cuối cùng trong khâu truyền bệnh
nhưng đối với dịch tả, nhưng trên hết vẫn là nguồn nước và môi
trường. Nếu nước sạch, môi trường không có vi trùng tả, kiểm
soát triệt để nguồn thải vi trùng tả th́ chẳng có thực phẩm nào
nhiễm tả, th́ việc đi t́m các vi trùng “chỉ tiêu chỉ điểm vệ
sinh trước và khi sự phơi nhiễm đă rơ ràng” chẳng có tác dụng và
chẳng có ư nghĩa ǵ cả! Dĩ nhiên, khâu an toàn vệ sinh thực phẩm
là một điều bắt buộc và là một việc làm có tính chất dài hạn và
nhất quán chứ không phải là chuyện “nước đến chân mới nhảy như
hiện nay, đi kiểm tra đại trà, đóng cửa đại trà các hàng quán
(nếu mất vệ sinh th́ vốn tất cả đă mất vệ sinh từ bao đời nay
chứ đâu phải v́ mới mấy tháng nay để trở thành nguyên nhân gây
dịch “tiêu chảy cấp nguy hiểm”!) nhằm để “diệt dịch”.
Việc xét nghiệm đại trà các mẫu thực phẩm, dù có phát hiện được
nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như ông NVD đề cập th́ nó chẳng có
mối liên hệ trực tiếp nào đến với đợt dịch tiêu chảy cấp mà đă
xác định được nguyên nhân là tả cả. Và rơ ràng rằng, các vi
khuẩn đă t́m thấy trên, ngoài tả, không có vi khuẩn nào trong số
đó có khả năng gây tiêu chảy cấp thành dịch lan toả ở Hà nội và
các tỉnh thành ở miền Bắc Việt nam trong 6 tháng qua cả.
Cho nên khuyến cáo “mọi biện pháp nhằm "bao vây, dập tắt
dịch" trong thời điểm này đều đúng, dù phải trả giá ở khía cạnh
nào đó” như ông NVD là quá bất hợp lư và thể hiện sự bất lực
trong chuyên môn và có phần né tránh trách nhiệm cúa các giới
chức thẩm quyền.
Nếu phát biểu như ông Nguyễn Văn Dũng, tôi thiết nghĩ, lẽ ra ông
nên đề nghị rơ ràng và cụ thể hơn là: “Trong khi dịch tiêu
chảy cấp đă lan rộng, mầm bệnh gây dịch phát tán khắp nơi trong
tất cả các môi trường, các bề mặt của mọi thứ có thể là trung
gian truyền bệnh Cấm lưu hành, sử dụng tiền tệ; cấm kinh doanh
thực phẩm, nhà hàng và cấm ăn uống nhằm hạn chế tối đa những tổn
thất đối với sức khỏe con người!”
Ông Dũng cũng bàn về chuyện mắm tôm. Ông có viết: “Vấn đề là mắm
tôm có gây tiêu chảy cấp hay không chứ không chỉ là bệnh tả!”
Tôi thấy ông lạc đề và đặt vấn đề không chính xác. Từ trước đến
nay, nếu không có chuyện dịch tả, th́ chắc mắm tôm sẽ không bị
“dày ṿ thân xác” đến như vậy. Cũng từ đầu vụ dịch đến nay, tất
cả các giới chức thẩm quyền y tế đều xoáy vào chuyện “mắm tôm là
thủ phạm gây bệnh tả”. Vậy th́ câu trả lời cần phải nói rơ cho
dân chúng biết: “Mắm tôm có phải là môi trường dung dưỡng và
trung chuyển truyền bệnh tả hay không?”
Không có câu trả lời về dịch tễ học, đă thế ông NVD lại đi vào
phân tích và đưa ra những giả định về sinh học để truy buộc cho
mắm tôm. Đó là việc làm phi khoa học và có tính cách truy bức dữ
kiện!
Ông có đề cập đến việc 100% mẫu mắm tôm xét nghiệm tuy âm tính
với vi khuẩn tả nhưng có sự có mặt của của vi khuẩn chỉ điểm
nhiễm bẩn phân. Có nhiễm vi khuẩn tả th́ nói có, không th́ bảo
không, chứ không thể đi t́m vi khuẩn tả, rồi lại vấy sang nhưng
mà cũng có nhiễm vi khuẩn “chỉ điểm nhiễm bẩn phân” là một sự
bất cập trong khoa học. Thế nhưng quan trọng hơn, liệu những con
số đó có trả lời được câu hỏi về một mối liên hệ đến một vụ dịch
tiêu chảy, hoặc một đầu mối căn nguyên của một dịch tiêu chảy
nào không? Câu trả lời chắc chắn là không.
Theo dơi thông tin về dịch tả ở Việt nam đă thấy buồn, đọc những
điều được viết ra từ một chuyên viên Vệ sinh dịch tễ lại thấy
buồn hơn về một tinh thần khoa học và tinh thần khoa học v́ cộng
đồng, có lẽ nó vẫn c̣n trong giấc mơ của người dân Việt nam.
22/4/2008 |